Ghi nhận bổ sung 4 loài chim tại tỉnh Quảng Bình (cũ) từ kết quả nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh

08:27 03/03/2026

 

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và áp lực từ phát triển kinh tế – xã hội, việc điều tra, cập nhật dữ liệu về các loài và hệ sinh thái có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý tài nguyên và định hướng phát triển bền vững. Theo địa giới hành chính trước sáp nhập, Quảng Bình hội tụ nhiều hệ sinh thái đặc trưng của khu vực Bắc Trung bộ như rừng tự nhiên trên núi đá vôi và núi đất, đất ngập nước nội địa, vùng ven biển – hải đảo và các sinh cảnh chuyển tiếp. Nhiều nghiên cứu tại khu vực này đã ghi nhận số lượng lớn loài động, thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm. Đặc biệt, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là khu vực tiêu biểu về giá trị sinh thái và tính đa dạng loài, với hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi còn tương đối nguyên vẹn.

Trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Điều tra, khảo sát khu hệ chim hoang dã trên địa bàn Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và một số vùng chim trọng điểm của tỉnh Quảng Bình nhằm đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái”, nhóm nghiên cứu đã khảo sát thực địa theo hướng tiếp cận đa sinh cảnh, gồm rừng tự nhiên, trảng cỏ – cây bụi thứ sinh, đất ngập nước nội địa và khu vực ven biển – hải đảo. Kết quả ghi nhận bổ sung 4 loài chim chưa từng được công bố trong danh lục chim tỉnh Quảng Bình (cũ), góp phần cập nhật dữ liệu loài và bổ sung cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý, bảo tồn tại địa phương.

Prinia inornata tại Phá Hạc Hải

Loài thứ nhất được ghi nhận là Prinia inornata (Chiền chiện bụng hung/ Chiền chiện núi), tại sinh cảnh đất ngập nước nội địa ở Phá Hạc Hải và sinh cảnh trảng cỏ xen cây bụi thấp thuộc khu vực Động Châu – Khe Nước Trong. Đây là loài chim nhỏ, hoạt động chủ yếu ở tầng thấp, có tập tính kín đáo, thường di chuyển nhanh trong thảm thực vật rậm nên dễ bị bỏ sót nếu điều tra chỉ tập trung vào rừng kín. Thức ăn chủ yếu là côn trùng và động vật không xương sống nhỏ, góp phần điều hòa quần thể côn trùng tại sinh cảnh mở. Việc ghi nhận loài cho thấy các sinh cảnh thứ sinh và bán tự nhiên vẫn duy trì chức năng sinh thái quan trọng, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của điều tra toàn diện trên nhiều dạng sinh cảnh khác nhau. Kết quả này cũng bổ sung dữ liệu phân bố của loài tại khu vực Bắc Trung bộ, góp phần hoàn thiện bức tranh khu hệ chim gắn với các sinh cảnh mở và đất ngập nước nội địa.

Egretta sacra tại Đảo Gió thuộc Vũng Chùa - Đảo Yến

Loài thứ hai là Egretta sacra (Cò đen/ Cò rạn), được ghi nhận tại khu vực Vũng Chùa – Đảo Yến, trong tổ hợp sinh cảnh bãi đá ven bờ và vùng triều thấp. Đây là loài chim nước ven biển, thích nghi với môi trường nước mặn – nước lợ, thường kiếm ăn đơn độc tại các vùng nước nông. Sự hiện diện của loài tại khu vực này góp phần bổ sung dữ liệu phân bố cho Bắc Trung bộ, đồng thời khẳng định vai trò sinh thái của hệ sinh thái ven biển – hải đảo trong duy trì quần xã chim nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ nước biển dâng và xói lở bờ biển, kết quả ghi nhận có ý nghĩa quan trọng đối với định hướng quản lý tổng hợp vùng bờ và bảo tồn sinh cảnh ven biển. Đồng thời, đây cũng là cơ sở ban đầu phục vụ theo dõi biến động quần thể các loài chim nước ven biển trong điều kiện thay đổi môi trường và gia tăng áp lực nhân sinh tại khu vực.

Parus monticolus tại Hung Trâu (VQG Phong Nha - Kẻ Bàng)

Loài thứ ba được ghi nhận là Parus monticolus (Bạc má bụng vàng) tại sinh cảnh rừng thường xanh núi thấp thuộc Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Đây là loài chim rừng đặc trưng, hoạt động ở tầng tán trung bình đến cao, phụ thuộc vào cấu trúc rừng nhiều tầng và độ che phủ lớn. Thức ăn chủ yếu là côn trùng sống trên thân và tán cây, do đó loài có vai trò tích cực trong duy trì cân bằng sinh thái rừng. Sự xuất hiện của Parus monticolus phản ánh chất lượng sinh cảnh rừng còn tương đối nguyên vẹn tại khu vực khảo sát, đồng thời củng cố vai trò của khu vực lõi rừng đặc dụng trong bảo tồn các loài nhạy cảm với suy thoái và phân mảnh sinh cảnh. Kết quả ghi nhận này cũng góp phần bổ sung dữ liệu về phân bố theo độ cao của loài tại Bắc Trung bộ, phục vụ đánh giá xu thế biến động quần thể trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thay đổi cấu trúc rừng.

Aythya nyroca tại phá Hạc Hải

Loài thứ tư là loài có giá trị bảo tồn cao nhất trong số 4 loài được ghi nhận lần này là Aythya nyroca (Vịt nâu đỏ/Vịt mặt trắng), được ghi nhận tại hệ sinh thái đất ngập nước nội địa Phá Hạc Hải. Theo International Union for Conservation of Nature (IUCN), loài hiện được xếp hạng Sắp bị đe dọa (Near Threatened – NT) ở quy mô toàn cầu và ở mức Sắp nguy cấp (VU) trong Sách đỏ Việt Nam. Đây là loài vịt lặn ưa các vùng nước ngọt hoặc nước lợ nông có thảm thực vật thủy sinh phát triển, kiếm ăn bằng cách lặn tại vùng nước ven bờ. Ghi nhận tại Quảng Bình (cũ) cho thấy các đất ngập nước nội địa Bắc Trung bộ có thể đóng vai trò điểm dừng chân hoặc khu vực trú đông quan trọng của chim nước di cư, qua đó nhấn mạnh giá trị sinh thái và nhu cầu ưu tiên bảo tồn các hệ sinh thái đất ngập nước trong bối cảnh biến động khí hậu và thay đổi sử dụng đất. Đồng thời, kết quả này cũng đặt ra yêu cầu tăng cường giám sát quần thể và chất lượng sinh cảnh đất ngập nước nhằm bảo đảm điều kiện lưu trú an toàn cho các loài chim nước có giá trị bảo tồn cao.

Việc ghi nhận bổ sung 4 loài chim mới cho danh lục địa phương phản ánh tính đa dạng và sự liên thông sinh thái giữa các hệ sinh thái rừng tự nhiên, sinh cảnh thứ sinh, ven biển và đất ngập nước nội địa. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm phong phú thêm cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học của tỉnh Quảng Bình (cũ) mà còn cung cấp bằng chứng khoa học quan trọng phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và giám sát dài hạn khu hệ chim trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Đồng thời, các phát hiện này cho thấy tiềm năng tiếp tục ghi nhận thêm loài nếu mở rộng điều tra theo hướng đa sinh cảnh, đa mùa và tích hợp các công cụ, công nghệ hỗ trợ hiện đại. Đây cũng là cơ sở để tăng cường xây dựng các chương trình theo dõi dài hạn, đánh giá xu thế biến động quần thể và mức độ thích ứng của các loài trước những thay đổi môi trường, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái gắn với quan sát chim tại khu vực./.

Phương Lan

 

Share this article

You might be interested

feedback