Đa dạng động vật ở Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Được xác định là một trong 200 vùng sinh thái quan trọng của thế giới (WWF, Global Eco-regon 200), Phong Nha – Kẻ Bàng đã ghi nhận sự có mặt của 1.405 loài động vật thuộc 842 giống, 294 họ, 68 bộ, 12 lớp, 4 ngành. Trong đó có 82 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 116 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN, 37 loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, 66 loài có tên trong các phụ lục CITES. Sự đa dạng về hệ động vật ở Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng bao gồm cả nhóm động vật có xương sống (thể hiện ở đa dạng nhóm thú, nhóm chim, nhóm lưỡng cư, nhóm bò sát, nhóm cá) và cả nhóm động vật không xương sống (chân khớp, giun dẹp, thân mềm).
Đa dạng thú: Có 155 loài thuộc 90 giống, 32 họ, 11 bộ. Trong đó có 56 loài thú lớn, có 46 loài thú được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (có 03 loài cực kỳ nguy cấp, 19 loài nguy cấp, 21 loài sắp nguy cấp), 93 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN, 39 loài có tên trong các phụ lục CITES. Đây cũng là sinh cảnh của 10 loài linh trưởng, chiếm 50% tổng số loài thuộc bộ linh trưởng ở Việt Nam; trong đó, có 03 loài linh trưởng nguy cấp trên phạm vi toàn cầu là Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis*), Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) và vượn Đen má trắng (Nomascus leucogenys siki), trong đó Voọc hà tĩnh là loài đặc hữu hẹp chỉ tìm thấy ở vùng núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng và vùng lân cận. Bên cạnh những loài linh trưởng nguy cấp, quý hiếm nói trên, Đặc biệt năm 2012, các nhà khoa học ghi nhận mẫu Chuột đá Trường Sơn (Laonastes aenigmamus) thuộc giống Laonestes tại khu vực mở rộng thuộc Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng - đây là một đại diện sống duy nhất của họ thú cổ (Diatomyidae) được xem là đã tuyệt chủng cách đây 11 triệu năm. Đây là loài mới phát hiện tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và là loài mới bổ sung vào danh lục thú Việt Nam. Việc phát hiện loài Chuột đá Trường Sơn là một trong các ghi nhận quan trọng về đa dạng sinh học của Vườn quốc gia và của thế giới, khẳng định nhóm động vật này không chỉ sinh sống giới hạn ở Lào mà còn cả ở Việt Nam.
Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis*) - loài đặc hữu hẹp tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
Ảnh: Quốc Hùng
Đa dạng chim: Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là sinh cảnh của 303 loài chim thuộc 166 giống, 55 họ, 15 bộ. Trong đó 11 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 11 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN, 12 loài có tên trong các phụ lục CITES, 06 loài có tên trong Nghị định 64/2019/NĐ-CP. Đáng chú ý có 07 loài chim đặc hữu cho dãy Trường Sơn với 04 loài đặc hữu cho Việt Nam và 01 loài bị đe dọa nguy cấp ở mức toàn cầu là Công (Pavo muticus). Phong Nha - Kẻ Bàng được tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế công nhận là 2 trong số hơn 60 vùng chim quan trọng của Việt Nam (BirdLife, 2005). Khu hệ chim nơi đây còn đặc biệt nổi bật với sự hiện diện của nhiều loài quý hiếm thuộc họ Trĩ (Phasianidae) phân bố trong các sinh cảnh rừng nguyên sinh tiêu biểu như các loài Trĩ sao (Rheinardia ocellata), Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura edwardsi), Gà lôi lam mào đen (Lophura imperialis), Gà lôi hông tía (Lophura diardi) và Gà rừng (Gallus gallus).. Bên cạnh đó, hệ sinh thái núi đá vôi độc đáo của Vườn là sinh cảnh quan trọng của Khướu đá mun (Stachyris herberti) – một loài chim đặc hữu, quý hiếm gắn liền với các vùng núi đá vôi. Về các ghi nhận phát hiện mới cho khoa học, hệ thống dữ liệu đa dạng sinh học đã bổ sung 02 loài chim mới gồm Chào mào trọc đầu (Pycnonotus hualon) được ghi nhận năm 2010 và Chích núi đá vôi (Phylloscopus calciatilis) được phát hiện tại khu vực Mò Ó (Thượng Hóa).
Chim công (Pavo muticus) - loài bị đe dọa ở mức toàn cầu tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
Ảnh: Quốc Hùng
Đa dạng cá: Có 219 loài thuộc 110 giống, 39 họ, 10 bộ. Trong đó có 05 loài được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam, 01 loài cực kỳ nguy cấp, 01 loài nguy cấp, 03 loài sắp nguy cấp; 33 loài đặc hữu của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Đến nay đã bổ sung thêm 13 loài cá mới cho khoa học, bao gồm nhiều đại diện mang tính đặc trưng cao như Cá Speolabeo hokhanhi, Cá Schistura kottelati, Cá Homatula dotui, cùng sự phong phú của giống Acrossocheilus (như cá Chát xô, cá Chát Cà Roòng, cá Chát sọc, cá Chát yên...), cá Mại xanh (Aspidoparia viridis) và cá Giao sơn (Yaoshanicus macrocorpus).
Đa dạng bò sát: Có 102 loài thuộc 69 giống, 18 họ, 02 bộ. Trong đó 17 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 11 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN, 15 loài có tên trong các phụ lục CITES. Khu vực này tiếp tục khẳng định giá trị ngoại hạng khi ghi nhận bổ sung 20 loài bò sát mới cho khoa học. Điển hình là các phát hiện có ý nghĩa lớn về mặt sinh thái và phân loại học như Rắn Lycodon calcarophilus (2025), Thằn lằn ngón Hang Va (Cyrtodactylus hangvaensis - 2024), Rùa hộp ba vạch trung bộ (Cuora cyclornata), Rắn lục Trường Sơn (Viridovipera truongsonensis) và Thạch sùng ngón Phong Nha - Kẻ Bàng (Cyrtodactylus phongnhakebangensis).
Đa dạng lưỡng cư: Có 51 loài thuộc 27 giống, 8 họ, 02 bộ. Trong đó 03 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 01 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN. Bổ sung 03 loài lưỡng cư mới cho khoa học, đóng góp quan trọng vào nguồn gen đa dạng của Vườn, bao gồm: Ếch giun (Ichthyophis chaloensis) được tìm thấy tại khu vực Cha Lo, cùng hai loài nhái cây là Nhái cây orlov (Rhacophorus orlovi) và Nhái cây quyết (Gracixalus quyeti).
Đa dạng về chân khớp, giun dẹp, thân mềm: Có 575 loài thuộc 380 giống, 142 họ, 28 bộ. Bổ sung thông tin về các loài chân khớp, giun dẹp, thân mềm mới phát hiện cho khoa học. giúp phát hiện thêm 09 loài động vật không xương sống mới cho khoa học. Đáng chú ý là sự hiện diện của các sinh vật hang động tiêu biến sắc tố và thoái hóa thị giác như: Bò cạp việt (Vietbocap canhi), Bò cạp Thiên Đường (Vietbocap thienduongensis), các loài nhện mù (Pholcus caecus, Pholcus bifidus), và mới đây nhất là sự xuất hiện của loài Ốc nón Sơn Đoòng (Calybium plicatus) được công bố năm 2025.
Đa dạng thực vật ở Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở trung điểm của Trung Trung Bộ, trong vùng sinh thái bắc Trường Sơn thuộc vùng sinh địa Indo-Malaya; với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có lượng mưa trung bình hàng năm trên 2.000mm và độ ẩm trung bình hằng năm trên 80%; cùng với sự đa dạng của các sinh cảnh như rừng trên núi đá vôi, rừng trên núi đất, rừng chuyển tiếp; các quá trình vận động địa chất đã tạo nên các dạng núi đá vôi, các hệ thống sông suối ngầm và sự đa dạng của các loại đất như đất feralit, đất đen macgalit-feralit, đất dốc. Đây là những yếu tố quan trọng tạo nên tính đa dạng về thực vật và sự giàu có về các yếu tố đặc hữu. Phong Nha - Kẻ Bàng ghi nhận sự có mặt của 2.958 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 1.009 chi, 198 họ, 63 bộ, 12 lớp, 6 ngành; trong đó có 111 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 121 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN, 03 loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ có tên trong Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc Quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Sự đa dạng về hệ thực vật ở Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng bao gồm cả đa dạng về các bậc taxon, về nguồn gen và tài nguyên thực vật.
Đa dạng thảm thực vật
Với 15 kiểu sinh cảnh rộng lớn với 10 kiểu thảm thực vật quan trọng. Rừng kín thường xanh che phủ 93,57 % diện tích, trong đó 83,74 % diện tích Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi điển hình hiếm có còn sót lại và hầu hết chưa bị tác động, trong đó có một số kiểu thảm thực vật và sinh cảnh chính như: Rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi dưới 700 m; Rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới chủ yếu cây lá rộng trên núi đá vôi trên 700 m; Rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới trên núi đất dưới 700m; Rừng thường xanh nhiệt đới chủ yếu cây lá rộng trên núi đất trên 700 m; Rừng thường xanh bị tác động trên núi đất.
Đa dạng về các bậc taxon:
I) Ngành Quyết lá thông (Psilotophyta)
1) Lớp Quyết lá thông (Psilotopsida): có 01 loài (Lõa tùng trần).
II) Ngành Thông đất (Lycopodiophyta)
2) Lớp Quyển bá (Isoetopsida): có 09 loài, trong đó 01 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam.
3) Lớp Thạch tùng (Lycopodiopsida): có 11 loài.
III) Ngành Mộc tặc/ Cỏ tháp bút (Equisetophyta)
4) Lớp Mộc tặc (Equisetopsida): có 02 loài, gồm mộc tặc trãi và mộc tặc yếu.
IV) Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta/ Pteridophyta)
5) Lớp Dương xỉ toà sen (Marattiopsida): có 14 loài.
6) Lớp Dương xỉ (Polypodiopsida): có 136 loài, trong đó có 02 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam.
7) Lớp Dương xỉ (Pteridopsida): có 99 loài, trong đó có 05 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN.
V) Ngành Hạt trần (Pinophyta)
8) Lớp Tuế (Cycadopsida): có 02 loài, gồm Tuế núi đá và Thiên tuế chìm, trong đó cả 02 loài này đều được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (thuộc nhóm nguy cấp và sắp bị đe doạ) và Sách đỏ IUCN.
9) Lớp Dây gắm (Gnetopsida): có 06 loài, trong đó có 04 loài có tên trong Sách đỏ IUCN.
10) Lớp Thông (Pinopsida): có 07 loài, trong đó có 01 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 06 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN.
VI) Ngành Hạt kín (Magnoliophyta)
11) Lớp Một lá mầm (Liliopsida): có 556 loài, trong đó có 28 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 16 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN, 01 loài có tên trong Nghị định 64/2019/NĐ-CP.
12) Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida): có 2.115 loài, trong đó có 77 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 88 loài được ghi trong Sách đỏ IUCN, 02 loài có tên trong Nghị định 64/2019/NĐ-CP.
Bách xanh đá (Calocedrus rupestris Averyanov) - loài đặc hữu ở VQG PN-KB.
Ảnh: Quốc Hùng
Đa dạng về nguồn gen thực vật: Nằm ở miền trung Việt Nam nên Phong Nha - Kẻ Bàng là nơi giao thoa của 2 luồng thực vật từ phía bắc và nam, đây là ranh giới tận cùng phía Nam của một số loài thực vật phía Bắc như: Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Chò nước (Platanus kerrii), Chò nâu (Dipterocarpus retusus), Cây rẫm (Burcera tonkinensis)... và cũng là ranh giới tận cùng phía Bắc của một số loài thực vật phía Nam như: Dầu ke (Dipterocarpus kerrii) Dầu đọt tím (Depterocarpus grandiflorus), Xoay (Dialium cochinchinensis), Giáng hương quả to (Pterocarpus macrocarpus), ... Mặt khác, do địa hình khối núi đá vôi tương đối độc lập nên Phong Nha - Kẻ Bàng còn là trung tâm phân bố của 419 loài thực vật đặc hữu của Việt Nam (trong đó có 28 loài Lan).
Theo khung phân loại các yếu tố địa lý thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn và Lê Trần Chấn (1999): Thực vật ở Phong Nha - Kẻ Bàng gồm có 18 yếu tố địa lý khác nhau, trong đó yếu tố đặc hữu Đông Dương chiếm nhiều loài nhất với 509 loài và thấp nhất là yếu tố ôn Bắc Đới chỉ có 01 loài.
Đa dạng về tài nguyên thực vật: Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng có trên 800 loài cây tài nguyên, có giá trị về khoa học và kinh tế thuộc 7 nhóm công dụng như: nhóm lấy gỗ, nhóm cây dầu nhựa, nhóm cây làm thuốc, nhóm cây ăn được, nhóm cây dùng đan lát và cho sợi, nhóm cây làm cảnh và bóng mát và nhóm cây cho thuốc nhuộm.
Hình thái hoa và lá của loài Bạch Đầu Phong Nha - Kẻ Bàng
Ảnh: Quốc Hùng
Đáng chú ý trong các kết quả nghiên cứu về thực vật là việc phát hiện thêm 8 loài mới cho khoa học, bao gồm: Thu hải đường (Begonia vietnamensis), Phòng kỷ Quảng Bình (Aristolochia quangbinhensis Do), Bùng bục Phong Nha (Mallotus phongnhaensis), Dương xỉ Quảng Bình (Polystichum quangbinhense), Sát khuyển Quảng Bình (Cynanchum quangbinhense), Bạch Đầu Phong Nha Kẻ Bàng (Decaneuropsis phongnhakebangensis), và phát hiện thêm một loài đặc hữu hẹp cho khu vực núi đá vôi - loài Bách xanh đá (Calocedrus rupestris Averyanov) 500 tuổi, diện tích khoảng 4.000 ha, mọc ưu thế trên núi đá vôi ở độ cao trên 600m được xem là sinh cảnh rừng độc đáo nhất bởi tầm quan trọng toàn cầu và giá trị bảo tồn, đây là một loài thực vật cổ và đặc hữu của Việt Nam, hiện chỉ còn sót lại chủ yếu ở Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Ngoài ra còn có các phát hiện về 1 chi đặc hữu đơn loài Oligoceras thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với loài Oligoceras eberhardtii rất hiếm ở Việt Nam.
Bên cạnh hệ thống rừng trên núi đá vôi độc đáo, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng còn là kho tàng nguồn gen thực vật làm thuốc phong phú với nhiều loài có giá trị dược liệu cao, đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu dược học cũng như tri thức y học bản địa. Nổi bật trong số đó là Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) – loài địa lan quý hiếm thuộc nhóm IIA (Thông tư số 85/2025/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp) và Sách Đỏ Việt Nam, phân bố dưới tán rừng ẩm thường xanh, chứa các hoạt chất sinh học (glycoside, polysaccharide) có tác dụng tăng cường miễn dịch, hạ đường huyết và bảo vệ gan. Ngoài ra, sinh cảnh rừng kín thường xanh và các thung lũng đá vôi nơi đây còn là môi trường sống lý tưởng của các loài dược liệu giá trị khác như Ba kích (Morinda officinalis How) giúp bổ thận, tráng dương; Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn.) có tác dụng trợ dương, tăng lực; Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb.) với công năng kháng viêm, thanh nhiệt, giải độc và Cà gai leo (Solanum procumbens Lour.) chứa glycoalkaloid hỗ trợ điều trị các bệnh lý về gan và nhiều loài cây thuốc khác. Việc tiếp tục điều tra định lượng, giám sát sinh thái và xây dựng các biện pháp bảo tồn nguyên vị (in-situ) đối với những quần thể thực vật dược liệu này là nhiệm vụ cấp thiết nhằm cung cấp thêm thông tin phục vụ công tác bảo tồn và nghiên cứu.
Đa dạng hệ sinh thái
Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng có 3 kiểu hệ sinh thái là hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, hệ sinh thái rừng trên núi đất, hệ sinh thái hang động.
- Hệ sinh thái rừng trên thái núi đá vôi: Gồm rừng núi đá nghèo, rừng núi đá trung bình và rừng núi đá giàu
Rừng núi đá nghèo: Nằm chủ yếu ở phía Tây, trung tâm và phía Nam Vườn quốc gia. Về trạng thái là rừng nghèo nhưng ít bị tác động và tính nguyên sinh còn giữ được. Trạng thái rừng nghèo ở đây không dàn trải đồng đều toàn bộ, mà đan xen với các đám cây bụi, cây gỗ nhỏ không có trữ lượng gỗ, phát triển trên các vách đá lộ, hoặc ở chỗ không tích lũy được đất và mùn. Thực tế rừng gọi là nghèo, nhưng không kiệt. Đây là sinh cảnh của các loài thú gặm nhấm: Sóc, Nhím, Chim và nơi cư trú của các loài Khỉ. Những vách đá dựng đứng cao 30-200m với các gờ, các hang hốc là nơi cư trú của các đàn Voọc. Trạng thái này cũng có nhiều loài cây cung cấp thức ăn cho chim thú như: Mây, Song, Đuôi Rồng, Ngũ Gia Bì, Nhọc, Bứa, Sến, Gáo, Đa, Si, Mun, Bùi, Bời lời, Gội núi...
Rừng núi đá trung bình: Phân bố ở các thung có đất bồi tụ dày, xen kẽ trong trạng thái rừng nghèo ở phía Bắc, trung tâm và phía Nam, các thung không rộng, khoảng 30-50 ha. Các thung này có điều kiện địa hình đặc biệt bị bao vây bởi các vách núi đá cao, do đó thời gian được chiếu sáng trung bình từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều, hoặc có chỗ ít hơn. Cây có xu thế vươn lên thẳng để đón ánh sáng. Ở đây có các loài phổ biến như: Lát, Gụ, Gội, Sến, Mun, Nghiến, Săng lẻ, Gùa, Chò nước, Dầu keri,... Đặc sản có Mây, Song, Hèo, Lá dong, cây thuốc như Ba kích, Ngũ gia bì, Thạch hộc, Cốt toái bổ, Hoài sơn, Hà thủ ô, lá khôi...
Rừng núi đá giàu: Phân tán chủ yếu ở vùng giữa Hang Vòm và Cổ khu, ở các thung hẹp nhỏ, trên đất có tầng mùn tích tụ dày. Có các loài ưu thế là: Nghiến, Lát, Gụ, Dầu Ke, Mun, Nhọ nồi, Re, Giẻ... Cũng do các vách đá dựng đứng bao quanh, cây có xu thế vươn thẳng lên cao, ít phân cành. Trong rừng luôn luôn tối, tầng cây bụi, cây nhỏ và thảm tươi thưa thớt. Các loài mây song cũng hiếm gặp ở trạng thái này, cây tái sinh thưa thớt.
- Hệ sinh thái rừng trên núi đất: gồm rừng núi đất nghèo, rừng núi đất trung bình và rừng núi đất giàu.
Rừng núi đất nghèo: Phân bố chủ yếu ở dọc đường 20 và phía Đông VQG. Các loài đặc sản phong phú như Song bột, song đá, Mây, Lá khôi, Lan gấm, Bời lời, Re... các loài cây giá trị đang có xu thế tái sinh mạnh và phục hồi nhanh. Đây là nơi cư trú của các loài: Gấu, Báo, Voi, Hổ, Hoẵng, Sơn dương...
Rừng núi đất trung bình: Phân bố chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam VQG, trạng thái này hầu như nguyên sinh với các loài cây gỗ quý như: Huỷnh, Gụ, Lát, Xoay, Gội, Sâng, Táu mật, Sấu, Trai, Dẻ... tầng cây gỗ nhỏ có: Máu chó, Trau tráu, Sơn hương viên... Đây là nơi cư trú yên tĩnh của các loài thú, và thức ăn cho các loài chim thú cũng phong phú. Các đàn bò tót thường cư trú ở trạng thái này.
Rừng núi đất giàu: Phân bố ở khu vực Rào Thung, Hang Én, đến U Bò. Với các loài gỗ quý như Huỵnh, Sâng, Gội, Re, Dẻ, Trai, Sấu... cây cao trung bình 24- 26m, đường kính trung bình 30-44cm. Trạng thái này hầu như còn nguyên sinh chưa bị tác động.
Quốc Hùng