Giới thiệu 1
Giới thiệu

Giới thiệu

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HOÁ PHONG NHA – KẺ BÀNG

Phong Nha – Kẻ Bàng là vùng đất hội tụ nhiều tầng giá trị và được ghi nhận bằng nhiều danh hiệu ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế. Nổi bật nhất là hai lần được UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản thế giới với các tiêu chí (năm 2003 tiêu chí “viii” và 2015 tiêu chí “ix và x”), mở rộng thành Di sản thế giới xuyên biên giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Việt Nam) - Vườn quốc gia Hin Nậm Nô (Lào) vào năm 2025, được công nhận Khu Dự trữ sinh quyển thế giới năm 2026; đồng thời là Di tích quốc gia đặc biệt (2009) và Khu du lịch cấp tỉnh (2026). Mỗi danh hiệu là một sự ghi nhận cho một phương diện giá trị riêng, đồng thời là minh chứng khẳng định vị thế và tiềm năng nổi bật của Phong Nha – Kẻ Bàng trên trường quốc tế và khu vực.

Đôi bờ Sông Son Phong Nha – Kẻ Bàng

(Ảnh: Quốc Hùng)

Nếu các giá trị địa chất, địa mạo, hệ sinh thái và đa dạng sinh học làm nên Giá trị nổi bật toàn cầu (Outstanding Universal Value - OUV) của Di sản, thì hệ thống di tích lịch sử, các di chỉ khảo cổ học cùng những giá trị văn hóa của các cộng đồng cư dân bản địa lại tạo nên chiều sâu nhân văn và bản sắc riêng của vùng đất này. Mặc dù không phải là tiêu chí trực tiếp cấu thành Giá trị nổi bật toàn cầu (OUV) đã được UNESCO ghi danh, nhưng chính sự hòa quyện giữa thiên nhiên với các giá trị lịch sử, văn hóa đã tạo nên một Phong Nha – Kẻ Bàng không chỉ kỳ vĩ về cảnh quan thiên nhiên mà còn giàu bản sắc văn hóa, tạo nên nét đặc trưng riêng và sức hấp dẫn khác biệt so với nhiều Di sản thế giới khác. Đến với Phong Nha – Kẻ Bàng hôm nay không chỉ là hành trình khám phá thiên nhiên, mà còn là hành trình tìm hiểu lịch sử, văn hóa và con người của vùng đất di sản.

1. Di tích lịch sử - văn hoá

Nằm trong lòng Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là hệ thống di tích lịch sử, văn hóa đặc biệt gắn với tuyến Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh huyền thoại cùng nhiều trọng điểm lịch sử quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là những chứng tích tiêu biểu phản ánh một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, ghi dấu tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, lòng dũng cảm, sự sáng tạo và đức hy sinh cao cả của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và Nhân dân trên tuyến lửa Trường Sơn. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và khoa học, “Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình)(cũ)” đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1272/QĐ-TTg ngày 12/8/2009.

Một đoạn Đường 20 – Quyết Thắng nhìn từ trên cao

(Ảnh: Quốc Hùng)

Trong hệ thống Đường Hồ Chí Minh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị ngày nay, Phong Nha – Kẻ Bàng là nơi hội tụ nhiều tuyến giao thông huyết mạch và các trọng điểm chiến lược, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong mạng lưới vận tải quân sự chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Với địa hình núi đá vôi hiểm trở, hệ thống hang động đồ sộ, các thung lũng kín và sông suối đan xen, khu vực này vừa là hậu cứ quan trọng, vừa bảo đảm giao thông vận tải, vừa là căn cứ hậu cần, chỉ huy và chiến đấu của quân và dân ta trên tuyến đường chiến lược nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến miền Nam. Tiêu biểu nhất là tuyến Đường 20 – Quyết Thắng, được mở trong chiến dịch “Chọc thủng Trường Sơn, mở đường thắng lợi”, trở thành biểu tượng của ý chí, trí tuệ và khát vọng thống nhất đất nước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đánh giá: “Đường 20 – Quyết Thắng là một kỳ công, kỳ quan do ý chí vì độc lập, tự do của chiến sĩ và thanh niên xung phong làm nên”.

 Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên Đường 20 Quyết thắng

(Ảnh: Tư liệu)

Dưới mưa bom, bão đạn của chiến tranh, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và Nhân dân đã anh dũng chiến đấu, lao động và hy sinh trên tuyến đường lịch sử này. Trong đó, sự kiện 13 cán bộ, chiến sĩ, gồm 08 thanh niên xung phong thuộc Đại đội C217, N25, P31 và 05 chiến sĩ Đoàn 5043 Pháo binh anh dũng hy sinh tại Hang Tám Cô vào trưa ngày 14/11/1972 đã trở thành biểu tượng bất tử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Sự hy sinh của các anh, các chị là bản anh hùng ca bất diệt về lòng yêu nước, tinh thần quả cảm và là minh chứng thiêng liêng cho chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đến nay, nhiều địa danh trên tuyến Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của ý chí quật cường, tinh thần bất khuất và khát vọng độc lập, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Tiêu biểu là hệ thống di tích lịch sử trên Đường 20 – Quyết Thắng, Đường 12A và Đường 15 như: Hang Tám Thanh niên xung phong (Hang Tám Cô), Hang Cô Y Tá, Tổng kho NH (Hang Chỉ huy, Hang bảy tầng), Hang Thông tin, Trọng điểm Trạ Ang, Dốc Ba Thang, Ngầm Cà Roòng, Trọng điểm A.T.P (Cua Chữ A, Ngầm Ta Lê, Đèo Pu-La-Nhích), Bến phà Xuân Sơn, Bến phà B Nguyễn Văn Trỗi, Động Phong Nha, Đèo Đá Đẽo, Sân bay dã chiến Khe Gát, Khe Ve, Ngầm Khe Rinh, Bãi Dinh, La Trọng, Cổng Trời, Đồi Cha Quang, Trận địa Nguyễn Viết Xuân... Mỗi địa danh đều gắn với những chiến công, những mất mát, hy sinh và biết bao câu chuyện cảm động về lòng yêu nước, ý chí kiên cường của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và Nhân dân trên tuyến lửa Trường Sơn.

Ảnh: Tư liệu

Bên cạnh hệ thống trọng điểm giao thông, còn có nhiều hang động trong khu vực vùng lõi và đệm Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng cũng từng được Bộ đội Trường Sơn sử dụng làm sở chỉ huy, kho chứa vũ khí, quân lương, xăng dầu, nơi hội họp, trú quân, cứu chữa thương binh, sơ tán Nhân dân hoặc tổ chức sản xuất phục vụ tiền tuyến… có những hang động trở thành những “công xưởng giữa đại ngàn” với hàng nghìn công nhân, cán bộ và bộ đội làm việc trong điều kiện vô cùng gian khổ nhưng vẫn bảo đảm nguồn cung cấp cho chiến trường, tiêu biểu như: hang Rục, hang Eo, hang Diêm, hang Hà Lời, hang Hang Tỉnh ủy; Hang Rượu; Hang Xà phòng; Hang quốc phòng; Hang công nông binh; Hang km 28; …

Đền tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ trên Đường 20 - Quyết Thắng

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Năm tháng sẽ qua đi nhưng đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một con đường huyền thoại, một kỳ tích của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại trong thế kỷ XX”. Chính bởi những giá trị đặc biệt đó, “Di tích lịch sử Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh” đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt (đợt 4) theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013. Trong hệ thống di tích này có nhiều điểm di tích lịch sử - văn hóa nằm trong lòng Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tạo nên mối liên kết đặc thù giữa các giá trị lịch sử, văn hóa và thiên nhiên, đồng thời đặt ra yêu cầu quản lý thống nhất theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, ngày 12/01/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành Quyết định số 70/QĐ-UBND về việc giao quản lý, sử dụng các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng được giao quản lý, sử dụng 07 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, gồm: Tổng kho NH; Dốc Ba Thang; Hang tám thanh niên xung phong (Hang Tám cô); một số khu vực trên Đường 20 – Quyết Thắng - Km 0, Km 10 - km 14 (Trọng điểm Trạ Ang); Hang Y tá; Hang Thông tin (Km4 đường 20); Động Phong Nha. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thực hiện đồng bộ nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di tích gắn với công tác bảo tồn Di sản thiên nhiên thế giới theo quy định của pháp luật.

Ngày nay, các di tích lịch sử không chỉ góp phần tạo nên chiều sâu của Di sản mà còn trở thành những “địa chỉ đỏ” có ý nghĩa trong giáo dục truyền thống và phát triển du lịch, nơi du khách vừa được chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên, vừa cảm nhận tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và sự hy sinh của các thế hệ đi trước. Đây cũng là nền tảng quan trọng để tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy hệ thống di tích gắn với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

2. Giá trị khảo cổ học

Phong Nha – Kẻ Bàng là một trong những khu vực có giá trị khảo cổ học quan trọng của Việt Nam. Nhiều dấu tích khảo cổ được phát hiện đã góp phần làm sáng tỏ quá trình cư trú, sinh hoạt và phát triển của con người trên vùng đất này từ thời tiền sử đến các giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào địa chất, địa mạo và giá trị cảnh quan thiên nhiên, trong khi các giá trị khảo cổ và văn hóa mới chỉ được quan tâm ở mức khái quát.

Ngay từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều học giả và nhà thám hiểm nước ngoài như Barton (người Anh khảo sát năm 1924), Antoine (người Pháp, khảo sát năm 1928), M. Bouffier (người Pháp, khảo sát năm 1929), RL.Cadiere, Pavis, Finot, Golonbew (người Pháp)... đã đến khảo sát động Phong Nha và bước đầu ghi nhận sự hiện diện của nhiều dấu tích văn hóa có giá trị như: Hệ thống ký tự Chăm cổ khắc trên vách đá, gạch Chăm, mảnh gốm, tượng đá, tượng Phật và các bài vị, bệ thờ trong hang. Từ những phát hiện này, các học giả nhận định động Phong Nha từng là nơi thờ tự Phật giáo của cả người Chăm và người Việt, phản ánh sự giao lưu, tiếp biến văn hóa diễn ra trong khu vực qua nhiều thời kỳ lịch sử. Dấu mốc quan trọng nhất là năm 1899, khi linh mục Léopold Cadière đi sâu khoảng 600 m vào động Phong Nha và phát hiện một bệ thờ xây bằng gạch Chăm, tượng đá mang phong cách Chăm Pa cùng hệ thống ký tự cổ tại hang Bi Ký. Ông cũng ghi nhận sự xuất hiện của chữ “Capimala”, mà sau này cố Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng có thể liên quan đến tên của một vị La Hán trong Phật giáo. Sau chuyến khảo sát, Cadière đã nhận định:“Những gì còn lại đó đều rất qúy giá  đối với sử học. Giữ nó là giúp ích không ít cho khoa học”.

Trong báo cáo đánh giá gửi UNESCO năm 1999, hai chuyên gia của IUCN khi so sánh Phong Nha – Kẻ Bàng với các di sản thế giới nổi tiếng như động Skosjan ở Slovenia, hang đá vôi Aggtelek và Slovak ở Hungry và Slovakia, Công viên quốc gia vùng hồ Plitvice ở Croatia, Công viên quốc gia Nahanni ở Canada, Công viên và động mammoth và Công viên quốc gia Grand Canyon ở Mỹ, thung lũng Hoanglong và Ziuzaigou của Trung Quốc, khu rừng bảo tồn thiên nhiên Tasmanian...; đã cho rằng: “Không một nơi nào trong những địa danh kể đến ở trên có thể so sánh được với Phong Nha - Kẻ Bàng về tính đa dạng của nó” và một trong những yếu tố quan trọng của tính đa dạng chính là phức hợp tự nhiên văn hoá trong khu vực này. Đây là ưu thế về mặt văn hoá để biến những chương trình du lịch sinh thái trở nên sinh động hơn gấp nhiều lần bởi sự góp mặt của các giá trị văn hoá.

Đầu thế kỷ XX, nhiều học giả Việt Nam như Thái Bá Kiệm, Lê Bá Thảo, Hoàng Thiếu Sơn, Trần Kinh, Nguyễn Kinh Chi... tiếp tục khảo sát và giới thiệu Phong Nha – Kẻ Bàng. Tuy nhiên, phần lớn các công trình giai đoạn này tập trung mô tả vẻ đẹp kỳ vĩ của hang động và giá trị cảnh quan thiên nhiên hơn là nghiên cứu khảo cổ học. Bước ngoặt quan trọng trong nghiên cứu khảo cổ học diễn ra vào tháng 7 năm 1995, khi đoàn khảo sát do Giáo sư Trần Quốc Vượng và các chuyên gia Viện Khảo cổ học tiến hành khảo sát động Phong Nha. Đoàn nghiên cứu nhận định hang Bi Ký có thể là một thánh đường Chăm tồn tại từ khoảng thế kỷ IX đến thế kỷ XI. Tại đây, đoàn đã phát hiện các mảnh gốm thô sơ có lõi đen, có vòng phân miệng loe rộng so với thân, tạo một góc gần vuông. Bên cạnh đó còn có những mảnh gốm có tráng men hoa văn miệng hình cánh sen, cánh xanh ngọc, có mảnh có men lông thỏ màu hồng nhạt, nhiều viên gạch đã bị vỡ và mềm ra như đất “Chúng tôi đục một lỗ ở nền trên cùng và thấy bên dưới lớp Cobannát canxi dày từ 10 - 20 cm là dấu vết của một nền móng gạch Chàm...”. Qua cuộc khảo sát, đoàn khảo sát có một số nhận định sơ bộ như sau: (1) Các mảnh gốm thô không men điển hình của gốm Chăm Pa, cùng với các mảnh  gốm có men, hoa văn hình cánh sen trong hang bước đầu đặt niên đại (gốm có  men và hoa văn) thế kỷ X - XI. Đây là thời kỳ cuối cùng của người Chăm Pa ở vùng này; (2) Các viên gạch Chăm và dấu vết các nền móng cùng các vật liệu kiến trúc, cho thấy ở đây trước kia đã có một kiến trúc gạch kết hợp với đá của người Chàm và đây có thể là một thánh đường của vùng Bắc Chăm Pa; (3) Tất cả các di vật phế tích Chàm này phải có niên đại muộn nhất là thế kỷ  XI.

Các ký tự cổ được khắc lên các lớp đá thạch nhũ trong Hang Bi Ký

Những phát hiện tại hang Bi Ký cho thấy nơi đây từng tồn tại một không gian tín ngưỡng mang đậm dấu ấn văn hóa Chăm Pa. Các nhà nghiên cứu đã ghi nhận 97 ký tự với khoảng 162 từ bằng chữ Chăm cổ, cùng nhiều hiện vật như gạch Chăm, tượng đá, tượng Phật, mảnh gốm và dấu tích kiến trúc thờ tự. Tuy nhiên, do điều kiện khảo sát và sao chép tư liệu thời kỳ đầu còn hạn chế nên phần lớn hệ thống văn tự này đến nay vẫn chưa được giải mã đầy đủ. Nhiều hiện vật từng được phát hiện cũng không còn được lưu giữ nguyên vẹn, gây khó khăn cho việc xác định niên đại cũng như nghiên cứu toàn diện về lịch sử cư trú và đời sống tín ngưỡng của cư dân trong khu vực.

Không chỉ dừng lại ở những dấu tích văn hóa Chăm Pa, các phát hiện khảo cổ học và cổ sinh vật học trong những năm gần đây tiếp tục mở rộng chiều sâu lịch sử của Phong Nha – Kẻ Bàng. Trong đợt khảo sát hang động năm 2026, đoàn thám hiểm của Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã phát hiện 05 chiếc rìu đá tại hang Én. Theo nhận định ban đầu của các chuyên gia, các hiện vật thuộc Văn hóa Bàu Tró, có niên đại khoảng 6.000–8.000 năm, được chế tác từ đá silic với kỹ thuật ghè đẽo và mài nhẵn đặc trưng của thời kỳ Đồ đá mới. Phát hiện này bổ sung thêm những bằng chứng quan trọng về sự hiện diện, quá trình cư trú và khả năng thích nghi của con người trong môi trường hang động tại Phong Nha – Kẻ Bàng từ hàng nghìn năm trước. Các hiện vật sau đó đã được bàn giao cho Bảo tàng tỉnh Quảng Trị và Bảo tàng Hà Nội để phục vụ công tác nghiên cứu, bảo quản và trưng bày. Bên cạnh các di vật khảo cổ, quá trình khảo sát hệ thống hang động tại Phong Nha – Kẻ Bàng trong thời gian qua còn ghi nhận nhiều mẫu hóa thạch xương động vật được bảo tồn trong các lớp trầm tích hang động. Đây là nguồn tư liệu quý có giá trị về cổ sinh vật học và cổ môi trường, góp phần nghiên cứu lịch sử tiến hóa của khu hệ động vật, quá trình biến đổi khí hậu và môi trường tự nhiên qua các thời kỳ địa chất, đồng thời cung cấp thêm cơ sở khoa học để nhận diện đầy đủ hơn quá trình hình thành và phát triển lâu dài của hệ sinh thái Phong Nha – Kẻ Bàng.

Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh bàn giao hiện vật rìu đá cho

Bảo tàng tỉnh Quảng Trị (Ảnh: Bảo tàng tỉnh cung cấp)

Đến nay, khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng đã ghi nhận nhiều dấu tích khảo cổ có giá trị như di chỉ hang Bi Ký trong động Phong Nha với hệ thống 97 ký tự cổ khắc trên vách đá, bàn thờ Chăm, tượng đá, mảnh gốm, nhiều bài vị; các công cụ đá thời tiền sử và nhiều mẫu hóa thạch động vật được phát hiện trong các hang động và một số khu vực khác. Những phát hiện này không chỉ khẳng định lịch sử cư trú lâu đời của con người trên vùng đất Phong Nha – Kẻ Bàng mà còn phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng cư dân qua nhiều thời kỳ.

Mặc dù vậy, các nghiên cứu khảo cổ hiện nay vẫn chủ yếu tập trung tại động Phong Nha, trong khi nhiều khu vực khác của Di sản chưa được điều tra và nghiên cứu một cách hệ thống. Đây là tiềm năng lớn để tiếp tục mở rộng nghiên cứu, bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học, hoàn thiện nhận thức về giá trị khảo cổ và lịch sử của Di sản, đồng thời tạo nền tảng cho công tác bảo tồn, giáo dục và phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch bền vững.

3. Giá trị văn hoá nhân văn

Vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng gồm 07 xã: Phong Nha, Thượng Trạch, Bố Trạch, Dân Hóa, Kim Điền, Kim Phú và Trường Sơn, với dân số khoảng 119.334 người. Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu dọc các trục giao thông, trong khi các xã vùng sâu, vùng biên giới Việt Nam - Lào có mật độ dân số thấp hơn. Cộng đồng cư dân trong vùng gồm ba thành phần dân tộc chính là Kinh, Bru - Vân Kiều và Chứt; trong đó, người Kinh chiếm đa số, còn Bru - Vân Kiều và Chứt là các cộng đồng dân tộc thiểu số đã sinh sống lâu đời, gắn bó mật thiết với hệ sinh thái rừng Trường Sơn. Trải qua quá trình cộng cư, giao lưu và thích nghi với môi trường núi rừng Trường Sơn, các cộng đồng cư dân đã hình thành kho tàng di sản văn hóa phong phú, thể hiện qua tri thức bản địa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật trình diễn dân gian, nghề thủ công, kiến trúc, trang phục và văn hóa ẩm thực…. Những giá trị này đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu, khẳng định Phong Nha – Kẻ Bàng không chỉ là nơi còn bảo tồn khá nguyên vẹn bản sắc văn hóa cư dân Trường Sơn mà còn góp phần làm phong phú giá trị nhân văn của Di sản thiên nhiên thế giới, tạo nền tảng cho công tác bảo tồn, nghiên cứu và phát triển bền vững.

3.1. Văn hóa dân tộc Chứt:

Dân tộc Chứt là một trong những cộng đồng cư dân bản địa có lịch sử cư trú lâu đời tại khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng. Dân tộc Chứt gồm các nhóm Sách, Mày, Rục, Arem và Mã Liềng, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường. Theo nhiều công trình nghiên cứu dân tộc học và ngôn ngữ học, các nhóm cư dân này tách khỏi cộng đồng tiền Việt – Mường từ rất sớm, trước khi người Việt và người Mường phân hóa vào khoảng thế kỷ V–VI. Danh xưng “Chứt” thường được hiểu là “rèm đá” hoặc “núi đá”, phản ánh không gian cư trú truyền thống gắn với vùng núi đá vôi và các hang động.

Dân tộc Chứt từ lâu đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Ngay từ thế kỷ XVIII, trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã ghi chép về các nhóm cư dân này với các tên gọi như Sách, Man, Hoang Man. Họ chủ yếu sinh sống ở vùng núi cao, biên giới; một số nhóm như Rục và Arem trước đây còn cư trú trong các hang đá, thích nghi với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của dãy Trường Sơn. Theo TS. Võ Xuân Trang: “Người Rục cũng như người Sách, người Mày, người Mã Liềng và người Arem ở Quảng Bình (cũ) là bộ phận cư dân tiền Việt – Mường hiếm hoi còn lại ở nước ta” (Người Rục ở Việt Nam, NXB Văn hóa Dân tộc, 1998). Trong quá trình cư trú lâu dài giữa đại ngàn Trường Sơn, người Chứt đã hình thành kho tàng văn hóa đặc sắc với nhiều tri thức bản địa, phong tục, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng mang đậm dấu ấn thích nghi với môi trường rừng núi, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa riêng của Phong Nha – Kẻ Bàng.

- Tri thức canh tác bản địa: Trong điều kiện sinh sống giữa vùng núi đá vôi hiểm trở, người Chứt đã hình thành hệ thống tri thức bản địa phong phú, phản ánh khả năng thích nghi với môi trường tự nhiên qua nhiều thế hệ. Trước Cách mạng Tháng Tám, sinh kế chủ yếu của họ dựa vào nương rẫy, săn bắt, hái lượm và chăn nuôi nhỏ lẻ. Hoạt động sản xuất được tổ chức theo mùa, với phương thức canh tác truyền thống “phát, cốt, đốt, trỉa”, trồng lúa rẫy, ngô, sắn, đậu và thuốc lá. Việc chọn đất, mở rẫy hay thời điểm gieo trỉa đều gắn với các tín ngưỡng dân gian và quan niệm về sự cho phép của thần linh, thể hiện mối quan hệ hài hòa giữa con người với tự nhiên. Bên cạnh sản xuất nương rẫy, đồng bào còn khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên rừng để bảo đảm cuộc sống. Các loại củ rừng, măng, rau rừng, mật ong, cá suối, cua, ếch và thú săn là nguồn lương thực, thực phẩm quan trọng. Đặc biệt, tinh bột lấy từ cây đoác (Arenga pinnata) từng là nguồn lương thực quý trong những thời kỳ khó khăn. Ngày nay, nhiều nhóm người Chứt như Sách và Mã Liềng đã biết canh tác lúa nước, sử dụng sức kéo và áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất. Tuy vậy, tri thức khai thác tài nguyên rừng và kinh nghiệm sản xuất truyền thống vẫn được gìn giữ, trở thành một bộ phận quan trọng trong kho tàng tri thức bản địa của cộng đồng.

Phụ nữ người Arem trồng lúa rẫy

- Về tổ chức cộng đồng: Người Chứt có truyền thống cư trú theo các làng, bản (cavel), thường phân bố thành những cụm dân cư nhỏ phù hợp với điều kiện địa hình miền núi. Mỗi bản đều có già làng là người có uy tín, đại diện cho cộng đồng trong việc điều hành các công việc chung, gìn giữ phong tục tập quán và giải quyết các vấn đề của bản làng. Trước Cách mạng Tháng Tám, các nhóm người Chứt chưa có họ theo nghĩa phổ biến; ngày nay, nhiều dòng họ mang các họ như Cao, Đinh, Phạm, Hồ... và đều có người tộc trưởng cùng bàn thờ tổ tiên chung. Hiện nay, cùng với vai trò của già làng, các thôn, bản còn có trưởng bản được cộng đồng bầu theo quy định, góp phần duy trì sự gắn kết cộng đồng và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

- Phong tục tập quán và tín ngưỡng: Đời sống tín ngưỡng của người Chứt gắn chặt với quan niệm “sinh ra từ rừng, chết về với rừng”, thể hiện mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Họ thờ cúng tổ tiên tại nhà tộc trưởng, việc thờ tự được truyền nối qua các thế hệ trong dòng họ. Đồng thời, người Chứt còn tôn thờ các lực lượng tự nhiên như thần rừng, thần núi, thần suối và tin rằng mọi hoạt động khai thác tài nguyên đều phải được thần linh cho phép, đồng thời tuân thủ nguyên tắc khai thác vừa đủ, không tận diệt để gìn giữ nguồn sống cho mai sau. Đây là một tri thức văn hóa đặc sắc, phản ánh tư duy bảo tồn thiên nhiên đã được hình thành từ rất sớm trong cộng đồng. Bên cạnh đó, người Chứt còn lưu giữ nhiều tập tục và tín ngưỡng dân gian độc đáo như: Tục thờ thần bếp của người Sách; Tục thờ ma Nộ của người Mã Liềng, cùng các nghi lễ cúng thần linh bằng rượu cần, gia súc, gia cầm và sản vật núi rừng. Riêng người Rục vẫn còn bảo lưu một số hình thức nghi lễ, phép thuật dân gian như: Thuật thổi thắt, thổi mở và thuật hấp hơi, tạo nên những nét văn hóa đặc trưng hiếm gặp trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam.

- Văn hóa dân gian và lễ hội truyền thống: Đời sống văn hóa tinh thần của người Chứt được phản ánh qua kho tàng truyện kể dân gian, dân ca, nhạc cụ truyền thống và hệ thống lễ hội gắn với vòng đời con người cũng như chu kỳ sản xuất. Những câu chuyện về thần rừng, thần núi, thần sấm, thần mây cùng các làn điệu dân ca như: Cà tơm – tà leng, Cà răng – tà nêu (Con trâu đi cày) được lưu truyền và trình diễn với nhiều nhạc cụ truyền thống như khèn, đàn ống, sáo (pi), ống thổi (pìa), tù và, chiêng, đàn Bot, đàn K'nông... trong các dịp lễ hội, cưới hỏi, mừng lúa mới, lễ gọi hồn và nhiều sinh hoạt cộng đồng, tạo nên một không gian văn hóa đậm đà bản sắc. Đặc biệt, các lễ hội truyền thống như: lễ mở cửa rừng, lễ mừng lúa mới, lễ Ka lôống (lễ chọn đất làm nương rẫy), lễ buộc chỉ cổ tay và nhất là lễ cúng giang sơn phản ánh sâu sắc thế giới quan của người Chứt, thể hiện lòng biết ơn đối với thần linh, sự tôn kính thiên nhiên và khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên. Đây là những giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc, góp phần làm nên bản sắc riêng của cộng đồng người Chứt trong vùng Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

- Kiến trúc nhà ở: Trước đây, nhà ở của người Chứt chủ yếu là những ngôi nhà sàn đơn sơ bằng tre, gỗ, lợp lá hoặc tận dụng các hang đá làm nơi cư trú, phản ánh sự thích nghi lâu đời với môi trường rừng núi. Người Arem thường sống từng nhóm 10 - 12 nhà rải rác ở các thung lũng và hang đá gần hang Đại Cáo, hang Người lùn, hang Duật... Còn người Rục sống thành nhóm nhỏ hơn khoảng 5-7 hộ ở các thung lũng gần nơi nước lặn hoặc các hang đá ở núi Ma Ma. Nếu ngôi nhà sàn gắn với người A Rem, Mã Liềng, Mày thì ngôi nhà đất (nhà trệt) lại gắn liền với người Sách, Rục. Dù nhà trệt hay nhà sàn, ngôi nhà của dân tộc Chứt có hai gian và hai cửa ra vào, gian chính là nơi thờ tự và tiếp khách, gian thứ 2 là nơi đặt bếp lửa, buồng ngủ với kết cấu đơn giản, sử dụng vật liệu sẵn có từ rừng như gỗ, tre, nứa và lá tranh. Ngày nay, dưới tác động của quá trình định canh, định cư và sự hỗ trợ của Nhà nước, nhà ở của đồng bào đã có nhiều thay đổi theo hướng kiên cố hơn, song vẫn lưu giữ những yếu tố truyền thống trong không gian sinh hoạt và đời sống cộng đồng.

Tộc người Rục sống trong hang đá (Ảnh: Tư liệu)

- Trang phục truyền thống: Trước đây, người Chứt chưa hình thành hệ thống trang phục truyền thống riêng như nhiều dân tộc khác. Nam giới thường đóng khố, ở trần; phụ nữ mặc váy. Khố và váy được làm từ vỏ cây rừng, chủ yếu lấy sợi từ cây sui (Antiaris toxicaria) thuộc họ Dâu tằm (Moraceae). Cùng với quá trình giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội, đồng bào dần sử dụng trang phục của người Kinh hoặc các sản phẩm thổ cẩm trao đổi từ các cộng đồng cư dân vùng biên giới Việt – Lào. Nhằm bảo tồn và tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc, trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Viện Dân tộc học (2024), năm 2025 tỉnh Quảng Trị đã phục dựng mẫu trang phục mang yếu tố truyền thống của người Chứt dựa trên các tư liệu lịch sử, ký ức cộng đồng và kết quả nghiên cứu khoa học. Ngày 26/12/2025, mẫu trang phục này được công bố và bàn giao cho các địa phương có đồng bào Chứt sinh sống để sử dụng trong các hoạt động văn hóa, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng, góp phần gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa của dân tộc Chứt trong đời sống đương đại.

Trang phục nam, nữ đồng bào Dân tộc Chứt hiện nay

(Ảnh: Sở VH,TT&DL cung cấp)

 - Ẩm thực bản địa: Ẩm thực của người Chứt phản ánh rõ nét tri thức bản địa trong quá trình thích nghi với môi trường rừng núi. Trước đây, nguồn lương thực và thực phẩm của đồng bào chủ yếu được khai thác từ tự nhiên như lúa rẫy, bột nhúc, bột báng, củ nâu, củ mài, măng, nấm, rau rừng, cá, tôm, cua suối và ốc lèn. Từ những nguyên liệu sẵn có, người Chứt đã tạo nên nhiều món ăn mang đậm bản sắc địa phương, tiêu biểu như “cơm Pồi, ốc lèn và rượu đoác (loại đồ uống truyền thống được chế biến từ nhựa cây đoác)”. Không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, các món ăn này còn gắn với đời sống cộng đồng, tập quán và lễ hội, thể hiện kinh nghiệm lâu đời trong khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên rừng.

Có thể nói, văn hóa của người Chứt là kho tàng tri thức bản địa đặc sắc, phản ánh quá trình thích nghi lâu dài với môi trường rừng núi Trường Sơn. Đặc biệt, hai nhóm Arem và Rục vẫn còn lưu giữ nhiều yếu tố văn hóa truyền thống về ngôn ngữ, phương thức mưu sinh, tín ngưỡng và tập quán xã hội, trở thành những tư liệu quý có giá trị đối với nghiên cứu dân tộc học, nhân học và lịch sử văn hóa. Những giá trị ấy không chỉ góp phần làm nên bản sắc văn hóa riêng của Phong Nha – Kẻ Bàng mà còn là nguồn tài nguyên nhân văn quan trọng cần được tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy gắn với phát triển bền vững Di sản thiên nhiên thế giới.

3.2. Văn hóa dân tộc Bru-Vân Kiều:

Dân tộc Bru – Vân Kiều là một trong những cộng đồng cư dân lâu đời trên dãy Trường Sơn, gồm bốn nhóm địa phương: Vân Kiều, Khùa, Ma Coong và Trì. Theo các tài liệu lịch sử và dân tộc học, cộng đồng này có nguồn gốc gắn với khu vực Trường Sơn và đã trải qua nhiều đợt cư trú, di cư qua lại giữa hai bên biên giới Việt Nam – Lào, trong đó một bộ phận đến định cư tại khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng từ khoảng thế kỷ XVII. Những ghi chép sớm về người Bru – Vân Kiều đã xuất hiện trong Ô Châu cận lục của Dương Văn An (thế kỷ XVI), Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) và nhiều công trình nghiên cứu sau này. Hiện nay, người Bru – Vân Kiều cư trú chủ yếu tại các xã miền núi, vùng biên giới thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Quá trình sinh sống lâu dài giữa đại ngàn Trường Sơn đã hình thành nên kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của vùng Di sản thiên nhiên thế giới.

- Tri thức canh tác bản địa: Người Bru – Vân Kiều tích lũy được hệ thống tri thức bản địa phong phú trong quá trình thích nghi với điều kiện tự nhiên của dãy Trường Sơn. Trước đây, đồng bào chủ yếu canh tác nương rẫy theo phương thức “phát, đốt, cốt, trỉa”, kết hợp với luân canh và thời gian hưu canh dài từ 5–10 năm nhằm phục hồi độ màu mỡ của đất. Việc lựa chọn khu rẫy, thời điểm phát rẫy và gieo trỉa đều gắn với kinh nghiệm sản xuất và các nghi lễ truyền thống, thể hiện sự tôn kính đối với thần rừng (Yang Xự) và quan niệm khai thác hài hòa với tự nhiên. Bên cạnh trồng trọt, đồng bào còn duy trì các hoạt động săn bắt, đánh cá, hái lượm, khai thác mật ong và lâm sản ngoài gỗ, tạo nên phương thức sinh kế đa dạng, tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên rừng. Ngày nay, mặc dù đời sống đã có nhiều thay đổi và từng bước chuyển sang canh tác ổn định, nhiều tri thức truyền thống trong quản lý đất đai, sử dụng tài nguyên và thích ứng với môi trường rừng vẫn được lưu giữ, trở thành một bộ phận quan trọng của kho tàng tri thức bản địa ở Phong Nha – Kẻ Bàng.

- Về tổ chức cộng đồng: Cộng đồng người Bru – Vân Kiều được tổ chức theo đơn vị vil (làng), trong đó già làng và những người có uy tín giữ vai trò trung tâm trong việc điều hành đời sống cộng đồng, giải quyết các công việc chung, gìn giữ luật tục và tổ chức các nghi lễ truyền thống. Quan hệ dòng họ, tinh thần đoàn kết và tương trợ trong lao động, sản xuất đã tạo nên sự gắn kết bền chặt giữa các thành viên trong bản làng. Đối với người Bru – Vân Kiều, rừng không chỉ là nguồn sinh kế mà còn là không gian linh thiêng gắn với hệ thống tín ngưỡng đa thần, từ quan niệm ấy đã hình thành hệ thống luật tục, hương ước và những quy tắc ứng xử với rừng, với cộng đồng và với thiên nhiên. Những quy ước truyền thống này không chỉ góp phần duy trì trật tự xã hội mà còn thể hiện tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên, bảo vệ rừng và sử dụng bền vững các nguồn lợi tự nhiên. Đến nay, nhiều giá trị của luật tục vẫn được các bản làng bảo tồn và phát huy trong đời sống cộng đồng.

- Phong tục tập quán và tín ngưỡng: Người Bru – Vân Kiều có đời sống tín ngưỡng đậm nét với quan niệm vạn vật hữu linh, thờ cúng các vị thần gắn với thiên nhiên như thần rừng, thần núi, thần nước, thần lúa, cùng tổ tiên và linh hồn người sống. Trước mỗi mùa sản xuất hoặc khai thác sản vật từ rừng, đồng bào đều thực hiện các nghi lễ truyền thống, tiêu biểu là lễ mở cửa rừng, cầu mong thần linh phù hộ và xin phép khai thác tài nguyên. Bên cạnh đó, nhiều phong tục như tục ba lần cưới của người Khùa, lễ buộc chỉ cổ tay, lễ cúng hồn vía, tục thổi chữa bệnh, lễ cúng tháng cho người đã khuất… vẫn được duy trì, tạo nên đời sống tâm linh giàu bản sắc. Từ hệ thống tín ngưỡng này đã hình thành các luật tục, hương ước về bảo vệ rừng và nguồn nước, coi đây vừa là nguồn sống vừa là không gian linh thiêng cần được gìn giữ. Những quy ước ấy không chỉ góp phần bảo tồn tài nguyên và duy trì cân bằng sinh thái mà còn phản ánh tri thức bản địa đặc sắc trong quản lý tài nguyên và phát triển bền vững của cộng đồng Bru – Vân Kiều.

- Văn hóa dân gian và lễ hội truyền thống: Người Bru – Vân Kiều sở hữu kho tàng văn hóa dân gian phong phú, phản ánh sinh động đời sống lao động, tín ngưỡng, tình yêu đôi lứa và mối quan hệ gắn bó với cộng đồng cũng như thiên nhiên Trường Sơn. Các làn điệu dân ca như Cha chấp (hát kể), Sim (hát giao duyên), Oát, Xà nớt, Tà oải cùng hệ thống truyện cổ, ca dao, tục ngữ được lưu truyền qua nhiều thế hệ, vừa là phương tiện truyền dạy tri thức dân gian, vừa lưu giữ ký ức và bản sắc văn hóa của tộc người. Đồng hành với đó là hệ thống nhạc cụ truyền thống như trống, thanh la, chiêng, các loại kèn (amam, ta-riêm, khơ-lúi, pi), sáo Pi, đàn achung, đàn pư-kua… được chế tác từ vật liệu sẵn có trong tự nhiên và sử dụng trong sinh hoạt cộng đồng cũng như các nghi lễ truyền thống. Nổi bật hơn cả là hệ thống lễ hội cộng đồng gắn với tín ngưỡng và chu kỳ sản xuất nông nghiệp. Đến tháng 9/2024, ba lễ hội của đồng bào đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gồm: Lễ hội Đập trống của người Ma Coong (2019), Lễ hội Trỉa lúa của người Bru – Vân Kiều (2021) và Lễ hội Mừng cơm mới của người Bru – Vân Kiều (2023). Các lễ hội không chỉ mang giá trị văn hóa, nghệ thuật và tín ngưỡng mà còn phản ánh tri thức bản địa trong ứng xử với thiên nhiên, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú giá trị nhân văn của Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

Lễ hội đập trống của người Ma-Coong xã Thượng Trạch

- Kiến trúc nhà ở: Nhà sàn là loại hình kiến trúc truyền thống tiêu biểu của người Bru – Vân Kiều, phản ánh sự thích nghi với điều kiện tự nhiên vùng Trường Sơn và tri thức bản địa trong lựa chọn không gian cư trú. Theo quan niệm của đồng bào, ngôi nhà lý tưởng luôn tựa lưng vào núi, hướng mặt ra khe suối, vừa thuận lợi cho sinh hoạt, sản xuất, vừa mang ý nghĩa tâm linh về sự che chở và sinh sôi. Kết cấu nhà sàn cao ráo, thông thoáng, sử dụng vật liệu lấy từ rừng như gỗ, tre, nứa, lá tranh, phù hợp với khí hậu miền núi. Không chỉ là nơi cư trú, nhà sàn còn là không gian gắn kết gia đình, cộng đồng và là biểu tượng văn hóa đặc trưng của người Bru – Vân Kiều vẫn được gìn giữ đến ngày nay.

- Trang phục truyền thống: Trang phục truyền thống của người Bru – Vân Kiều là một trong những biểu tượng đặc sắc của bản sắc văn hóa tộc người. Trong các dịp lễ hội, cưới hỏi và sinh hoạt cộng đồng, nam nữ đều mặc trang phục dệt thủ công với hoa văn và màu sắc rực rỡ, thể hiện quan niệm thẩm mỹ, tín ngưỡng và bản sắc cộng đồng. Nổi bật là “áo Ada” của phụ nữ cùng các loại trang sức như vòng cổ, vòng tay, vòng cườm, khuyên tai, đặc biệt là “vòng tay Prả”, vừa có giá trị trang trí vừa thể hiện địa vị, vai trò và ý nghĩa tâm linh. Ngày nay, dù trang phục hiện đại đã trở nên phổ biến trong đời sống thường nhật, trang phục truyền thống vẫn được đồng bào gìn giữ và sử dụng trong các lễ hội, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa Bru – Vân Kiều.

- Ẩm thực bản địa: Ẩm thực của người Bru – Vân Kiều mang đậm dấu ấn của núi rừng Trường Sơn, được hình thành từ quá trình khai thác và sử dụng khéo léo các nguồn nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên. Nhiều món ăn truyền thống như bánh A Chôi, bánh A Dưh, Láp (cá khe trộn rau rừng và gia vị) hay rượu cần… không chỉ phản ánh tri thức bản địa trong chế biến thực phẩm mà còn gắn với đời sống cộng đồng, các nghi lễ và lễ hội truyền thống. Đây là những giá trị văn hóa ẩm thực đặc sắc, góp phần tạo nên bản sắc riêng của người Bru – Vân Kiều trong vùng Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

Với quá trình cư trú lâu đời trên dãy Trường Sơn, người Bru – Vân Kiều đã hình thành và lưu giữ một hệ thống giá trị văn hóa đặc sắc, phản ánh mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên, cộng đồng và tín ngưỡng truyền thống. Những giá trị ấy không chỉ góp phần tạo nên bản sắc văn hóa riêng của cộng đồng Bru – Vân Kiều mà còn là bộ phận quan trọng cấu thành giá trị nhân văn của Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Bên cạnh đó, sự hiện diện của các cộng đồng Thổ, Mường, Tày, Ê Đê, Thái, Pa Cô, Giẻ Triêng, Cao Lan và Krai tuy không nhiều nhưng cũng góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa đa dạng của vùng đất Phong Nha – Kẻ Bàng, tạo nên sự giao thoa văn hóa đặc sắc và làm giàu thêm các giá trị nhân văn của Di sản.

3.3. Văn hóa người Việt (dân tộc Kinh) ở Phong Nha- Kẻ Bàng

Người Việt (dân tộc Kinh) hiện là cộng đồng cư dân chiếm tỷ lệ lớn nhất trong khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng, khoảng 83,1% dân số, phân bố tại hầu hết các xã vùng đệm như Phong Nha, Thượng Trạch, Trường Sơn, Kim Điền, Kim Phú và Dân Hóa. Quá trình hình thành cộng đồng cư dân người Việt tại đây diễn ra qua nhiều giai đoạn lịch sử. Theo các tư liệu lịch sử và nghiên cứu dân tộc học, một bộ phận cư dân từ vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh và đồng bằng Quảng Trạch, Bố Trạch (cũ) đã di cư lên khu vực thượng nguồn sông Gianh từ khoảng thế kỷ XIV, hình thành nên nhóm người Nguồn hiện cư trú chủ yếu ở khu vực Minh Hóa. Bên cạnh đó, các làng như Mé, Trằm, Hà Lời, Na, Phong Nha... được hình thành từ nhiều đợt di dân khác nhau, có thể bắt đầu từ chính sách “chiếu mộ dân” của vua Lý Nhân Tông vào thế kỷ XI, tiếp tục phát triển mạnh trong thời kỳ Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa và giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh khi sông Gianh trở thành giới tuyến. Quá trình cộng cư lâu dài giữa người Việt với các cộng đồng Bru – Vân Kiều và Chứt đã tạo nên không gian giao lưu, tiếp biến văn hóa đặc sắc, góp phần hình thành diện mạo văn hóa đa dạng của vùng Phong Nha - Kẻ Bàng.

Đời sống văn hóa của cộng đồng người Việt ở Phong Nha – Kẻ Bàng là kết quả của quá trình cư trú lâu dài, thích ứng với điều kiện tự nhiên và giao lưu, tiếp biến với các cộng đồng Bru – Vân Kiều, Chứt trong không gian văn hóa Trường Sơn. Các giá trị văn hóa được thể hiện trên nhiều phương diện như kiến trúc, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghề thủ công, văn học, nghệ thuật dân gian, lễ hội truyền thống và văn hóa ẩm thực, phản ánh rõ bản sắc của cư dân Bắc Trung Bộ gắn với điều kiện đặc thù của vùng Di sản. Tiêu biểu là nghệ thuật “Hát Tuồng Bội” ở xã Phong Nha và “Hò Thuốc cá” gắn với Lễ hội Rằm tháng Ba ở xã Minh Hóa đã được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Cùng với đó, các lễ hội truyền thống như Lễ hội đua thuyền trên sông Son, Hội thi Cá trắm sông Son và nhiều hoạt động văn hóa cộng đồng vẫn được duy trì, góp phần bảo tồn bản sắc địa phương, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và phát huy giá trị Di sản gắn với phát triển du lịch bền vững.

Ẩm thực địa phương tại Hội Rằm tháng ba Minh Hóa

Đặc biệt, người Nguồn (một bộ phận cư dân Việt sinh sống chủ yếu tại khu vực Minh Hóa) vẫn bảo lưu nhiều yếu tố của văn hóa và ngôn ngữ Việt cổ có nguồn gốc từ vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh. Những giá trị này được thể hiện qua các làn điệu dân ca như hò thuốc, hò lỉa, hát pồi; các kiểu nhà truyền thống như nhà rội, nhà rường, nhà khung cụi; hệ thống miếu thờ Tiên, thờ Bụt; các món ăn dân dã như ốc vặn (ốc tực), ốc núi, cơm pồi; cùng những nét trang phục truyền thống như áo dài bốn hoặc năm thân, quần chân què, đũng chéo, vấn chéo và chạc lưng. Đây là những giá trị văn hóa có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng Bắc Trung Bộ, đồng thời phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến lâu dài giữa người Việt với các cộng đồng cư dân bản địa, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa của Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

Có thể thấy, Phong Nha – Kẻ Bàng không chỉ là Di sản thiên nhiên thế giới với những giá trị nổi bật về địa chất, địa mạo và đa dạng sinh học mà còn là không gian lưu giữ hệ thống di tích lịch sử, các dấu tích khảo cổ học cùng kho tàng văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Kinh, Bru – Vân Kiều và Chứt qua nhiều thế hệ. Chính sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên với giá trị lịch sử và văn hóa đã tạo nên bản sắc riêng của Di sản. Đây không chỉ là nguồn tư liệu quý phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục truyền thống và bảo tồn di sản mà còn là nền tảng quan trọng để phát huy giá trị Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng gắn với phát triển du lịch bền vững./.

Mai Thuỳ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Nguyễn Văn Mạnh, Người Chứt ở Việt Nam, NXB Thuận Hóa, 1996.

2.Trần Hùng, Nguyễn Khắc Thái. Phong Nha – Kẻ Bàng: Từ tư liệu tổng quan. Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quảng Bình, 2004.

3.Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Khắc Thái, Nguyễn Phước Bảo Đàn, Lê Anh Tuấn, Trần Đức Sáng. Hoa trên đá núi: Chân dung các dân tộc thiểu số miền Tây Quảng Bình, NXB Thống kê, 2006.

4.Nguyễn Thế Hoàn (chủ nhiệm), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa các dân tộc vùng Phong Nha – Kẻ Bàng”, Trường Đại học Quảng Bình, 2007.

5.Phạm Hồng Thái (Chủ nhiệm), Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu và đề xuất phát triển các sản phẩm du lịch trải nghiệm thiên nhiên gắn với văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”. Ban Quản lý Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, 2023–2025.

6.Nguyễn Khắc Thái, “Bảo tồn và khai thác di tích lịch sử, văn hóa và sinh thái nhân văn trong khu vực Di sản thế giới”. Trong: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng”, 2013.

7.Hồ Bá Thâm, Đường 20 Quyết Thắng – Lịch sử, địa danh, sự tích và tri ân, Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh Việt Nam, trên sách Tạp chí Nông thôn Việt, 2022.

8.Trần Ngọc Long, “Bác Hồ với việc chỉ đạo xây dựng Quảng Bình thành tuyến đầu chi viện cho chiến trường miền Nam”. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 6, 2017.

9.Nguyễn Văn Mạnh, “Thử bàn về những giá trị đặc trưng hệ sinh thái nhân văn của Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng”. Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6, 2004.

10.Nguyễn Văn Mạnh, “Nghiên cứu dân tộc học/nhân học ở Trường Đại học Khoa học Huế”, Thông báo Dân tộc học, 2012.

11.Nguyễn Văn Mạnh, “Văn hóa Chăm Pa ở Quảng Bình: Tiềm năng và giải pháp phát triển du lịch”. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 2, 2015.

12.Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Thị Mỹ Lộc. “Những giá trị đặc trưng về văn hóa tộc người khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng”. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 3, 2013, tr. 193–200.

13.Nguyễn Văn Mạnh. "Bản sắc văn hóa tộc người với xóa đói giảm nghèo: Từ lý luận đến thực tiễn ở người Chứt hiện nay". Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 4, 2019.

14.Trần Thế Hùng, Phạm Thị Cảnh. “Vài nét về một số lễ hội của người dân bản Arem, xã Tân Trạch”. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 3, 2019.

15.Tạ Đình Hà. “Một vài nét về tín ngưỡng văn hóa dân gian độc đáo của người Vân Kiều ở Quảng Ninh”. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 4, 2020.

16.Tạ Đình Hà, “Dấu ấn văn hóa trong mười thế kỷ của cư dân Chăm Pa Quảng Bình”. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 1, 2015.

17.Võ Văn Trí, Hoàng Hải Vân, Nguyễn Thị Hồng Liễu, “Phong Nha – Kẻ Bàng, Quảng Bình: Bằng chứng các di chỉ văn hóa từ sơ sử”. Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 6, 2016.

18.Mai Thùy, “Dấu ấn văn hóa Chăm Pa trên đất Di sản thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng”. Bản tin Văn hóa Quảng Bình, số 5, 2020.

19.Trang thông tin điện tử: https://sdttg.quangtri.gov.vn/du-lieu-cac-dtts; https://svhttdl.quangtri.gov.vn/di-san-van-hoa; https://nhandan.vn/dan-toc-bru-van-kieu-post723920.html; https://suckhoedoisong.vn/dong-bao-chut-mot-trong-nhung-toc-nguoi-bi-an-nhat-the-gioi-co-trang-phuc-truyen-thong-169251227104812942.htm.

Chia sẻ bài viết

góp ý